Nguyễn Thành An

Sấm Trạng Trình và những điều linh nghiệm

Giai thoại về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng những lời sấm tiên tri của ông vẫn còn được truyền tụng trong dân gian với những ứng nghiệm bất ngờ vừa dân gian vừa huyền bí.
Cuộc sống là một bí mật với quá khứ, hiện tại và tương lai vừa vận động theo quy luật vừa có những ngoại lệ khó đoán định nên chỉ thời gian mới có câu trả lời xác quyết nhất cho những chiêm tinh dự đoán của con người. Nhưng thời gian cũng là một bí mật. Thế nên có những kẻ hậu sinh vẫn đang truy tìm cuốn Thái ất thần kinh đã thất truyền mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thường vận dụng trong các tiên đoán của mình về thời cuộc để những mong biết trước được vận mệnh, nhân tình thế thái nhằm ứng xử sao cho ích lợi cả đôi đường, vừa mưu cầu cái lợi ích chính đáng lẫn cái mưu đồ đen tối trong biến thiên cuộc đời mình tùy theo trí lự và tâm tính họ…

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

“Thế sự ngàn năm sau trước rộng dài/Có tiếng sấm truyền vang đi trên đất”. Cuốn sách Thái ất thần kinh đó chắc hẳn chứa đựng rất nhiều “bí kíp tuyệt luân” trong lĩnh vực tiên tri, chiêm tinh của con người và những ứng dụng trong đời sống cá nhân, cộng đồng. Nhưng cuốn sách đó dù hay ho đến thế nào đi chăng nữa cũng chỉ như một phép thuật mà thôi. Việc sử dụng phép thuật đó như thế nào mới là điều quan trọng. Khi rơi vào tay kẻ ác, nó sẽ trở thành ma thuật và làm hại nhiều người. Khi gặp được chân nhân, nó sẽ lan tỏa sức mạnh kỳ diệu của mình, giúp cho cuộc sống của chúng dân nhiều phúc lợi an lành hơn.

Trong tay Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm cuốn Thái ất thần kinh đã đắc dụng. Tương truyền, thầy của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Lương Đắc Bằng, một người tinh thông lý số đã đem sách này ra dạy cho học trò, nhưng có những điều trong sách ấy Lương Đắc Bằng cũng chưa hiểu hết được và chỉ có Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau mới tinh thông, do nắm được bí truyền của sách Thái ất thần kinh.

Sinh trưởng trong một gia đình danh giá, có học vấn ở làng Trung Am (xã Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nên Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm được thừa hưởng tinh hoa truyền thống gia tộc. Ông ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm, vị khoa bảng Nhữ Văn Lan được coi là vị tổ của họ Nhữ ở làng An Tử Hạ, Tiên Lãng, đỗ tiến sĩ năm 1463, đời Lê, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ. Cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đều là những người có văn tài học hạnh.

Tương truyền, thân mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà Nhữ Thị Thục, một bậc nữ lưu tài hoa chốn kinh thành giỏi giang văn chương và tinh thông lý số đã hơn một lần gieo cầu đoán sẽ đẻ ra vua. Thế nên ngay từ khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cất tiếng khóc chào đời, năm 1491, lại thấy con mình có tướng mạo khác thường, bà đã dốc sức nuôi dạy con trai để trở thành một tài năng kiệt xuất giúp nước cứu đời. Niềm thôi thúc mạnh mẽ ấy đã khiến bà sớm tìm được người thầy có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Lương Đắc Bằng về dạy cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Với trí tuệ thông minh mẫn tiệp từ nhỏ nay lại gặp được thầy giỏi nên Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng khác gì rồng gặp được mây. Và rồi thầy cũng hết chữ để dạy trò, khi chính ông đã vượt xa thầy qua cuốn Thái ất huyền hoặc kia.

Lớn lên trong một giai đoạn lịch sử rối ren mà vua tôi nhà Lê và các tập đoàn phong kiến bấy giờ gây ra, mãi đến năm 44 tuổi, năm 1535, ông mới đi thi và đỗ đầu ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình và đỗ Trạng Nguyên. Cái tài học vấn uyên thâm của ông, sự thông tuệ của ông đã đắc dụng sau này khi ông sử dụng vào chính sự trên gốc rễ nhân dân. Sở học của ông đã phát huy tối đa sau này khi ông áp dụng vào những sự kiện chính trường đầy biến động của đất nước.

Với minh tuệ của mình, với trình độ thâm nguyên lý học của mình, ông được triều đình nhà Mạc và các sĩ phu đương thời phong là Trình tuyền hầu và dân gian gọi ông là Trạng Trình. Người đời sau, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp coi ông là người có tài “huyền cơ tham tạo hóa”.

Sinh ra với tướng mạo khác thường nhưng không có khí chất thiên tử nên ông không thể làm vua. Nếu lên ngôi chắc hẳn Đại Việt sẽ có một đấng minh quân và nhân dân không phải loạn lạc. Không làm vua thì ông làm một Khổng Minh quân sư cho cả ba thế lực chính trị đương thời tạo ra thế chân vạc kìm toả lẫn nhau mà không rơi vào hỗn chiến tam quốc, một cách ích lợi nhất cho muôn thảo dân, tránh được những cuộc chiến đầu rơi máu chảy, nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn. Không là vua nhưng ông có thể thiết kế chính trường. Những tính toán của ông, những đường đi nước bước của ông trên bàn cờ cuộc thế đã được tiên liệu trước.

Xuất thân từ gia đình danh gia vọng tộc nhưng ông có cái nhìn vượt lên trên tầng lớp thượng lưu để hướng về thảo dân bách tính với những nhân ái lớn lao là cuộc sống an lạc, thái bình, thịnh vượng cho mọi người. Điều đó phải là một minh tuệ mới có được. Điều đó phải là một hiền tâm mới làm được. Và chỉ với một câu thơ “Việt Nam khởi tổ xây nền” (câu đầu tiên trong Sấm Trạng Trình mà ông để lại cho hậu thế), Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là người đầu tiên sử dụng tên gọi Việt Nam như là quốc hiệu song ông cũng là người sử dụng nhiều nhất và có ý thức nhất danh xưng thiêng liêng này.

Gạt đi tất thảy những huyền du của giai thoại như khi lên một tuổi ông nói mặt trời mọc đằng đông, bỏ qua giai thoại về việc cứu nguy cho hậu duệ thoát nạn sập nhà 500 năm sau khi ông mất… chỉ còn lại cái cốt của giai thoại thì cho thấy ông là người luôn ôm nỗi đau thế sự. Bằng minh tuệ của mình, ông phải luôn trăn trở cái thế, về sự giằng xé giữa các thế lực, về cái thiệt thòi cái phúc lợi của chúng dân là gì khi những mưu đồ được toan lên giữa bàn cờ thế cuộc. Thế nên mới có được nước cờ đắc địa “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” cho Nguyễn Hoàng, “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản” cho chúa Trịnh khi đến hỏi kế sách, và “Cao Bằng tuy thiến, khả diên số thế” với nhà Mạc. Thế nên tiếng nói ông mới trở thành tiếng sấm được truyền tụng tới mai sau…

Dẫu là người có thể tiên đoán được biến cố 500 năm sau trước nhờ học phương pháp tính theo Thái ất nhưng ông vẫn phải sống ở thời đại ông, thân thể ông vẫn bó buộc trong cuộc tao ly thế kỷ 15 của Đại Việt. Có thể những lời sấm của ông vẫn còn được tiếp tục giải mã thế nhưng hệ tư tưởng triết học của ông vẫn nằm trong vòng tròn của chủ nghĩa duy tâm chứ không phải là hình xoắn trôn ốc của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Dù vậy thì ông vẫn đạt đến một đỉnh tùng trượng sơn của trí tuệ.

Nơi nào ông ngồi nghiền ngẫm thế cuộc, thiên cơ, quốc vận, có phải bên hàng tùng bách dưới chân núi Cổ Am? Nơi nào là nơi ông ngồi viết sấm ký, nơi nào là nơi ông ngồi viết những vần thơ, có phải bên dòng Tuyết giang vời vợi? Nơi nào ông mở trường lớp dạy học những mong đào tạo cho đời những tài năng kinh bang tế thế khi lui về ở ẩn? Một Bạch vân phu tử hay một Tuyết giang phu tử đang thư nhàn bên suối, bên thông như tiên ông ngồi đánh cờ, câu cá. Ông vẫn đang mải chơi cờ đó ư? Hay ông vẫn đang say nghĩ tiếp những vần xoay con tạo, những quy luật biến thiên của thời cuộc tàn suy thăng giáng và những ngoại lệ của các quy luật đó. Không, ông đang trải lòng mình với những vần thơ. Những câu thơ chắt chiu từ tâm đức ông. “Trạng Trình tỉnh giấc cười ba tiếng/ Quẻ lòng nhân giao mãi chưa thành“. Người ta đồ rằng, sau lúc thiếp mệt, ông chợt tỉnh giấc rồi cười vang lên ba tiếng đắc nhân tâm khi bỗng nghĩ ra điều gì đó có lợi cho chúng dân hay nghĩ ra một câu thơ thần, một câu thơ thiền bừng nở giữa đóa sen.

>> Tri ân Đại học sĩ Trương Quốc Dụng
>> Nguyễn Siêu – ngọn bút và đạo học

Tháng Mười 15, 2010 Posted by | Sấm Trạng Trình | Phản hồi đã bị khóa

Sấm Trạng Trình

 

1 Vận lành mừng gặp tiết lành  
2 Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu  
3 Một câu là một nhiệm màu  
4 Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao  
5 Trải vì sao mây che Thái Ất  
6 Thủa cung tay xe nhật phù lên  
7 Việt Nam khởi tổ xây nên  
8 Lạc Long ra trị đương quyền một phương  
9 Thịnh suy bỉ thới lẽ thường  
10 Một thời lại một nhiễu nhương nên lề  
11 Ðến Ðinh Hoàng nối ngôi cửu ngủ  
12 Mở bản đồ rủ áo chấp tay  
13 Ngự đao phút chốc đổi thay  
14 Thập bát tử rày quyền đã nổi lên  
15 Ðông a âm vị nhi thuyền  
16 Nam phương kỳ mộc bỗng liền lại sinh  
17 Chấn cung hiện nhật quang minh  
18 Sóng lay khôn chống trường thành bền cho  
19 Ðoài cung vẻ rạng trăng thu  
20 Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn  
21 Sang cửu thiên ám vầng hồng nhật  
22 Dưới lẫn trên năng vẫn uống quen  
23 Sửa sang muôn việc cầm quyền  
24 Ngồi không ai dể khẳng nhìn giúp cho  
25 Kìa liệt vương khí hư đồ ủng  
26 Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn  
27 Trời sinh ra những kẻ gian  
28 Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài  
29 Áo vàng ấm áp đà hay  
30 Khi sui đấp núi khi say xây thành  
31 Lấy đạt điền làm công thiên hạ  
32 Ðược mấy năm đất lở giếng mòn  
33 Con yết ạch ạch tranh khôn  
34 Vô già mở hội mộng tôn làm chùa  
35 Cơ trời xem đã mê đồ  
36 Ðã đô lại muốn mở đô cho người  
37 Ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn  
38 Suốt vạn dân cừu giận oán than  
39 Dưới trên dốc chí lo toan  
40 Những đua bán nước bán quan làm giàu  
41 Thống rủ nhau làm mồi phú quí  
42 Mấy trung thần có chí an dân  
43 Ðua nhau làm sự bất nhân  
44 Ðã tuần bốn bể lại tuần đầu non  
45 Dư đồ chia xẻ càn khôn  
46 Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau  
47 Vội sang giàu giết người lấy của  
48 Sự có chăng mặc nọ ai đôi  
49 Việc làm thất chính tơi bời  
50 Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ  
51 Xem tượng trời đã giơ ra trước  
52 Còn hung hăng bạc ngược quá xưa  
53 Cuồn phong cả sớm liền trưa  
54 Ðã đờn cửu khúc còn thơ thi đề  
55 Ấy Tần Vương ngu mê chẳng biết  
56 Ðể vạn dân dê lại giết dê  
57 Luôn năm chật vật đi về  
58 Âm binh ở giữa nào hề biết đâu  
59 Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng  
60 Cũng một lòng trời chống khác nào  
61 Xem người dường vững chiêm bao  
62 Nào đâu còn muốn ước ao thái bình  
63 Một góc thành làm tâm chứng quỷ  
64 Ðua một lòng ích kỷ hại nhân  
65 Bốn phương rời rỡ hồng trần  
66 Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần  
67 Tiếc là những xuất dân làm bạo  
68 Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau  
69 Nhân danh trọn hết đâu đâu  
70 Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê  
71 Hùm già lạc dấu khôn về  
72 Mèo non chi chí tìm về cố hương  
73 Chân dê móng khởi tiêu tường  
74 Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình  
75 Nội thành ong ỏng hư kinh  
76 Ðầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang  
77 Bở mồ hôi Bắc giang tái mã  
78 Giửa hai xuân bỗng phá tổ long  
79 Quốc trung kinh dụng cáo không  
80 Giữa năm giả lai kiểm hung mùa màng  
81 Gà đâu sớm gáy bên tường  
82 Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không  
83 Thủy binh cờ phất vầng hồng  
84 Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng  
85 Ðứng hiên ngang đố ai biết trước  
86 Ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?  
87 Ai còn khoe trí khoe năng  
88 Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi  
89 Chưa từng thấy đời này sự lạ  
90 Bổng khiến người giá họa cho dân  
91 Muốn bình sao chẳng lấy nhân  
92 Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày  
93 Ðã nên si Hoàn Linh đời Hán  
94 Ðúc tiền ra bán tước cho dân  
95 Xun xoe những rắp cậy quân  
96 Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công  
97 Máy hoá công nắm tay dễ ngỏ  
98 Lòng báo thù ai dễ đã nguôi  
99 Thung thăng tưởng thấy đạo trời  
100 Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra  
101 Cát lầm bốn bể can qua  
102 Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về  
103 Quân hùng binh nhuệ đầy khe  
104 Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời  
105 Bấy giờ càng khốn than ôi  
106 Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?  
107 Thương những kẻ ăn rau ăn giới  
108 Gặp nước bung con cái ẩn đâu  
109 Báo thù ấy chẳng sai đâu  
110 Tìm non có rẩy chừng sau mới toàn  
111 Xin những kẻ hai lòng sự chúa  
112 Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân  
113 Cho nên phải báo trầm luân  
114 Ai khôn mới được bảo thân đời này  
115 Nói cho hay khảm cung rồng dấy  
116 Chí anh hùng xem lấy mới ngoan  
117 Chử Rằng lục thất nguyệt gian  
118 Ai mà nghĩ được mới gan anh tài  
119 Hễ nhân kiến đã dời đất cũ  
120 Thì phụ nguyên mới chổ binh ra  
121 Bốn phương chẳng động can qua  
122 Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi  
123 Bấy giờ mở rộng qui khôi  
124 Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn  
125 Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh  
126 Hoàng phúc xưa đã định tây phong  
127 Làu làu thế giới sáng trong  
128 Lồ lộ mặt rồng đầu có chử vương  
129 Rỏ sinh tài lạ khác thường  
130 Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài  
131 Xem ý trời có lòng đãi thánh  
132 Dốc sinh hiền điều đỉnh nội mai  
133 Chọn đầu thai những vì sao cả  
134 Dùng ở tay phụ tá vương gia  
135 Bắc phương chính khí sinh ra  
136 Có ông Bạch sĩ điều hoà hôm mai  
137 Song thiên nhật rạng sáng soi  
138 Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường  
139 Ðời này thánh kế vị vương  
140 Ðủ no đạo đức văn chương trong mình  
141 Uy nghi trạng mạo khác hình  
142 Thác cư một gốc kim tinh phương đoài  
143 Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi  
144 Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân  
145 Binh thơ mấy quyển kinh luân  
146 Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu  
147 Ở đâu đó anh hùng hẳn biết  
148 Xem sắc mây đã biết thành long  
149 Thánh nhân cư có thụy cung  
150 Quân thần đã định gìn lòng chớ tham  
151 Lại dặn đấng tú nam chí cả  
152 Chớ vội vàng tất tả chạy rong  
153 Học cho biết lý kiết hung  
154 Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi  
155 Hễ trời sinh xuống phải thì  
156 Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông  
157 Kìa những kẻ vội lòng phú quí  
158 Xem trong mình một thí đều không  
159 Ví dù có gặp ngư ông  
160 Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng  
161 Xin khuyên đấng thời trung quân tử  
162 Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh  
163 Âm dương cơ ngẩu ngô sinh  
164 Thái nhâm thái ất trong mình cho hay  
165 Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng  
166 Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh  
167 Võ thông yên thủy thần kinh  
168 Ðược vào trận chiến mới càng biến cơ  
169 Chớ vật vờ quen loài ong kiến  
170 Biết ray tay miệng biếng nói không  
171 Ngỏ hay gặp hội mây rồng  
172 Công danh sáng chói chép trong vân đài  
173 Bấy giờ phỉ sức chí trai  
174 Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình  
175 Nặng lòng thật có vĩ kinh  
176 Cao tay mới gẩm biết tình năm nao  
177 Trên trời có mấy vì sao  
178 Ðủ nho biền tướng anh hào đôi nơi  
179 Nước Nam thường có thánh tài  
180 Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường  
181 So mấy lời để tàng kim quỉ  
182 Chờ hậu mai có chí sẽ cho  
183 Trước là biết nẽo tôn phò  
184 Sau là cao chí biết lo mặc lòng  
185 Xem đoài cung đến thời bất tạo  
186 Thấy vĩ tinh liệu rạo cho mau  
187 Nguôi lòng tham tước tham giàu  
188 Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân  
189 Trẻ con mang mệnh tướng quân  
190 Ngỡ oai đã dấy ngỡ nhân đã nhường  
191 Ai lấy gương vua U thủa trước  
192 Loạn ru vì tham ngược bất nhân  
193 Ðoài phương ong khởi lần lần  
194 Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn  
195 Man mác một đỉnh Hoành Sơn  
196 Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù  
197 Ấy là những binh thù Thái Thái  
198 Lòng trời xui ai nấy biết ru ?  
199 Phá điền dầu khỉ cuối thu  
200 Tái binh mới động thập thò liền sang  
201 Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết  
202 Vẽ lại thêm hung kiệt mất mùa  
203 Lưu tinh hiện trước đôi thu  
204 Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm  
205 Xem thấy nhũng sương săm tuyết lạnh  
206 Loài bất bình tranh mạnh hung hăng  
207 Thành câu cá, lửa tưng bừng  
208 Kẻ ngàn Ðông Hải người rừng Bắc Lâm  
209 Chiến trường chốn chốn cát lầm  
210 Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông  
211 Sang thu chín huyết hồng tứ giả  
212 Noi đàng dê tranh phá đôi nơi  
213 Ðua nhau đồ thán quần lê  
214 Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương  
215 Kẻ thì phải thủa hung hoang  
216 Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan  
217 Kẻ thì mắc thủa hung tàn  
218 Kẻ thì bận của bổng toan khốn mình  
219 Muông vương dựng ổ cắn tranh  
220 Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành  
221 Bời bời đua mạnh tranh giành  
222 Ra đâu đánh đấy dem binh sớm ngày  
223 Bể thanh cá phải ẩn cây  
224 Ðất bằng nổi sấm cát bay mịt mù  
225 Nào ai đã dễ nhìn U  
226 Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn  
227 Cây bay lá lửa đôi ngàn  
228 Một làng còn mấy chim đàn bay ra  
229 Bốn phương cùng có can qua  
230 Làm sao cho biết nơi hào bảo thân  
231 Ðoài phương thực có chân nhân  
232 Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người  
233 Tìm cho được chốn được nơi  
234 Thái nguyên một giãi lần chơi trú đình  
235 Bốn bề núi đá riểu quanh  
236 Một đường tiểu mạch nương mình dấy an  
237 Hễ Ðông Nam nhiều phen tàn tạc  
238 Tránh cho xa kẻo mắc đao binh  
239 Bắc kinh mới thật đế kinh  
240 Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào  
241 Chim hồng vỗ cánh bay cao  
242 Tìm cho được chốn mới vào thần kinh  
243 Ai dễ cứu con thơ sa giếng  
244 Ðưa một lòng tranh tiếng dục nhau  
245 Vạn dân chịu thủa u sầu  
246 Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho  
247 Cấy cày thu đãi thời mùa  
248 Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai  
249 Nhân ra cận duyệt viễn lai  
250 Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm  
251 Xem tượng trời biết đường đời trị  
252 Gẩm về sau họ Lý xưa nên  
253 Giòng nhà để lấy dấu truyền  
254 Gẩm xem bốn báu còn in đời đời  
255 Thần qui cơ nổ ở trời  
256 Ðể làm thần khí thủa nơi trị trường  
257 Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh  
258 Sông Bảo Giang thiên định ai hay  
259 Lục thất cho biết ngày dài  
260 Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê  
261 Có thầy nhân thập đi về  
262 Tả phụ hửu trì cây cỏ làm binh  
263 Giốc hết sức sửa sang vương nghiệp  
264 Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời  
265 Ra tay điều chỉnh hộ may  
266 Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân  
267 Lọ là phải nhọc kéo quân  
268 Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về  
269 Năm giáp tý vẽ khuê đã rạng  
270 Lộ Ngũ tinh trinh tượng thái hanh  
271 Ân trên vũ khí vân hành  
272 Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài  
273 Bản đồ chảng sót cho ai  
274 Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn  
275 Vững nền vương cha truyền con nối  
276 Dõi muôn đời một mối xa thư  
277 Bể kình tâm lặng bằng tờ  
278 Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân  
279 Âu vàng khỏe đặt vững chân  
280 Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài  
281 Vừa năm nhâm tý xuân đầu  
282 Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời  
283 Quyển vàng mở thấy sấm trời  
284 Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian  
285 Một thời có một tôi ngoan  
286 Giúp trong việc nước gặp an thái bình  
287 Luận chung một tập kim thời  
288 Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi  
289 Trượng phu có chí thời coi  
290 Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng  
291 Tài nầy nên đấng vẻ vang  
292 Biết chừng đời trị biết đường đời suy  
293 Kể từ nhân đoản mà đi  
294 Số chưa gặp thì biết hoà chép ra  
295 Tiếc thay hiền sĩ bao già  
296 Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công  
297 Thử cho tay giúp ra dùng  
298 Tài này so cùng tài trước xem sao  
299 Trên trời kể chín tầng cao  
300 Tay nghe bằng một ti hào biết hay  
301 Hiềm vì sinh phải thời này  
302 Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời  
303 Hợp đà thay thánh nghìn tài  
304 Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời  
305 Nói ra thì lậu sự đời  
306 Trái tai phải lụy tài trai khôn luần  
307 Nói ra am chúa bội quân  
308 Ðương thời đời trị xoay vần được đâu  
309 Chờ cho nhân đoản hết sau  
310 Ðến chừng đời ấy thấy âu nhiễu nàn  
311 Trời xui những kẻ ắt gian  
312 Kiếp độc đạo thiết làm loàn có hay  
313 Vua nào tôi ấy đã bày  
314 Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn  
315 Ðua nhau bội bạn nghịch vi  
316 Ích gia phi kỷ dân thì khốn thay  
317 Tiếc tài gẩm được thời hay  
318 Ðã sao như vậy ra tay sẽ dùng  
319 Tài trai có chí anh hùng  
320 Muốn làm tướng súy lập công xưng đời  
321 Khá xem nhiệm nhặt tội trời  
322 Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng  
323 Ði tìm cho đến đế cung  
324 Rấp phù xuất lực đế cung được toàn  
325 Bảo nhau cương kỷ cho tường  
326 Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài  
327 Chờ cho động đất chuyển trời  
328 Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng  
329 Còn bên thì náu chưa xong  
330 Nhân lực cướp lấy thiên công những là  
331 Ðời ấy những quỉ cùng ma  
332 Chảng còn ở thật người ta đâu là  
333 Trời cao đất rộng bao xa  
334 Làm sao cho biết cửa nhà đế vương  
335 Dù trai ai chửa biết tường  
336 Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này  
337 Ý ra lục thất gian nay  
338 Thời vận đã định thời nầy hưng vương  
339 Trí xem nhiệm nhặt cho tường  
340 Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy  
341 Vua ngự thạch bàn xa thay  
342 Ðại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng  
343 Gà kêu vượn hót vang lừng  
344 Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò  
345 Nhân dân vắng mạt bằng tờ  
346 Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay  
347 Vua còn cuốc nguyệt cày mây  
348 Phong điều vũ thuận thú rày an dân  
349 Phong đăng hoà cốc chứa chang  
350 Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây  
351 Chính cung phương khảm vần mây  
352 Thực thay thiên tử là nay trị đời  
353 Anh hùng trí lượng thời coi  
354 Công danh chẳng ngại tìm đòi ra đi  
355 Tìm lên đến thạch bàn khê  
356 Có đất sinh thánh bên kia cuối làng  
357 Nhìn đi nhìn lại cho tường  
358 Dường như chửa có sinh vương đâu là  
359 Chảng tìm thì đến bình gia  
360 Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình  
361 Nhìn xem phong cảnh cũng xinh  
362 Tả long triều lại có thành đợt vây  
363 Hửu hổ uấn khúc giang này  
364 Minh Ðường thất diệu trước bày mặt tai  
365 Ở xa thấy một con voi  
366 Cúi đầu quen bụi trông vời hồ sâu  
367 Ấy điềm thiên tử về chầu  
368 Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời  
369 Song thiên nhật nguyệt sáng soi  
370 Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu  
371 Ðến đời thịnh vượng còn lâu  
372 Ðành đến tam hợp chia nhau sẽ làm  
373 Khuyên cho Ðông Bắc Tây Nam  
374 Muốn làm tướng súy thì xem trông này  
375 Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn  
376 Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn  
377 Tiền sinh cha mẹ đà cách trở  
378 Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn  
379 Kìa cơn gió thổi lá rung cây  
380 Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây  
381 Tan tác kiến kiều an đất nước  
382 Xác xơ cổ thụ sạch am mây  
383 Sơn lâm nổi sóng mù thao cát  
384 Hưng địa tràng giang hóa nước đầy  
385 Một gió một yên ai sùng bái  
386 Cha con người Vĩnh Bảo cho hay  
387 Con mùng búng tít con quay  
388 Vù vù chong chóng gió bay trên đài  
389 Nhà cha cửa đóng then cài  
390 Ầm ầm sấm động hỏi người đông lân  
391 Tiếc tám lạng thương nửa cân  
392 Biết rằng ai có du phần như ai  
393 Bắt tay nằm nghỉ dông dài  
394 Thương người có một lo hai phận mình  
395 Canh niên tân phá 2010
396 Tuất hợi phục sinh 2018-2019
397 Nhị Ngũ dư bình 2025
398 Long hổ xà đầu khởi chiến tranh 2013 Chiến tranh Trung-Mỹ
399 Can qua tứ xứ loạn đao binh  
400 Mã đề dương cước anh hùng tận 2014-2015 Trung Mỹ kiệt quệ.
401 Thân dậu niên lai kiến thái bình 2016-2017 Thái bình
402 Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu  
403 Có một đàn xà đánh lộn nhau 2013 Thế chiến 
404 Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng  
405 Lợn kia làm quái phải sai đầu  
406 Chuột nọ lăm le mong cản tổ  
407 Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu  
408 Hùm ở trên rừng gầm mới dậy Nước Việt vươn dậy
409 Tìm về quê củ bắt ngựa tàu Nước Việt đánh tàu
410 Cửu cửu kiền khôn dĩ định 2016=>2+16=9+9 hay 2+0+1+6=9 ? 
411 Thanh minh thời tiết hoa tàn Mùa thu
412 Trực đáo dương đầu mã vĩ 2014-2015
413 Hồ binh bát vạn nhập trường an Hồ Cẩm Đào
414 Bảo Giang thiên tử xuất Thiên tử xuất hiện
415 Bất chiến tự nhiên thành Không đánh mà thắng
416 Lê dân bảo bảo noản  
417 Tứ hải lạc âu ca Thế giới hòa bình
418 Dục đức thánh nhân hương  
419 Qua kiều cư Bắc phương  
420 Danh vi Nguyễn gia tử  
421 Kim tịch sinh ngưu lang  
422 Thượng đại nhân bất nhân  
423 Thánh ất dĩ vong ân  
424 Bạch hổ kim đai ấn  
425 Thất thập cổ lai xuân  
426 Bắc hữu kim thành tráng  
427 Nam tạc ngọc bích thành  
428 Hỏa thôn đa khuyển phệ  
429 Mục giả dục nhân canh  
430 Phú quí hồng trần mộng  
431 Bần cùng bạch phát sinh  
432 Anh hùng vương kiếm kích  
433 Manh cổ đổ thái bình  
434 Nam Việt hửu Ngưu tinh  
435 Quá thất thân thủy sinh  
436 Ðiạ giới sĩ vị bạch  
437 Thủy trầm nhi bắc kinh  
438 Kỷ mã xu dương tẩu  
439 Phù kê thăng đại minh  
440 Trư thử giai phong khởi  
441 Thìn mão xuất thái bình  
442 Phân phân tùng Bắc khởi  
443 Nhiểu nhiểu xuất Ðông chinh  
444 Bảo sơn thiên tử xuất  
445 Bất chiến tự nhiên thành  
446 Thủy trung tàng bảo cái  
447 Hứa cập thánh nhân hương  
448 Mộc hạ châm châm khẩu  
449 Danh thế xuất nan lương  
450 Danh vi Nguyễn gia tử  
451 Tinh bản tại ngưu lang  
452 Mại dử lê viện dưỡng  
453 Khởi nguyệt bộ đại giang  
454 Hoặc kiều tam lộng ngạn  
455 Hoặc ngụ kim lăng cương  
456 Thiên dử thần thực thụy  
457 Thụy trình ngũ sắc quang  
458 Kim kê khai lựu điệp  
459 Hoàng cái xuất quí phương  
460 Nhân nghĩa thùy vi địch  
461 Ðạo đức thực dữ đương  
462 Tộ truyền nhị thập ngủ  
463 Vận khải ngủ viên trường  
464 Vận đáo dương hầu ách  
465 Chấn đoài cương bất trường  
466 Quần gian đạo danh tự  
467 Bách tính khổ tai ương  
468 Can qua tranh đấu khởi  
469 Phạm địch tánh hung hoang  
470 Ma vương sát đại quỉ  
471 Hoàng thiên tru ma vương  
472 Kiền khôn phú tai vô lương  
473 Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng  
474 Cơ nhị ngủ thư hùng vị quyết  
475 Ðảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân  
476 Ta hồ vô phụ vô quân  
477 Ðào viên tán lạc ngô dân thủ thành  
478 Ðoài phương phước điạ giáng linh  
479 Cửu trùng thụy ứng long thành ngủ vân  
480 Phá điền thiên tử giáng trần  
481 Dũng sĩ nhược hai mưu thần như lâm  
482 Trần công nai thị phúc tâm  
483 Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du  
484 Tướng thần hệ xuất y chu  
485 Thứ kỵ phục kiến Ðường ngu thi hành  
486 Hiệu xưng thiên hạ thái bình  
487 Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia .  
  — Nguyễn Bỉnh Khiêm —  

Tháng Mười 15, 2010 Posted by | Sấm Trạng Trình | Phản hồi đã bị khóa

Sấm Trạng Trình

Sau khi lấy lý học chiêm tinh thời thế các nhà du ngôn (tức là Sấm ký) Tầu như Khổng Minh, Lưu Bá Ôn hoặc Trạng Trình của ta đã đem bát quái ra thông vào thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên chia ra bao nhiêu kỷ. Trên linh từ lúc khai thiên lập địa, dưới đời sau. Xưa là các thời đại vua chúa, xét vào quẻ hưng suy, bĩ, loạn đều ứng với nhau nên lấy quẻ ra mà chiêm nghiệm việc đời cũng đoán theo quẻ mà thôi, chứ không phải biết trước hẳn sau sẽ thế nào. Vậy cho nên đời sau cũng cứ phải đợi xẩy ra mới biết câu tiên tri là đúng. Xem sấm phải biết như thế, ai cũng hay có ý đoán riêng của mình.

Sấm Trạng Tình

Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đảo sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn
Chép ghi làm một bản xem chơi
Muôn việc cũng bởi tại trời
Suy thông mới biết sự đời nhường bao
Khéo chẳng sai tơ hào cũng vậy
Truyền hậu thế ai nấy xem cho
Những lời nghiêm ngặt khôn lo
Ai mà biết được trượng phu nên người
Nay xem chữ một nghĩa mười
Nói xuôi cũng được ngược thời cũng nên
Kể từ Lạc Long Quân dựng nước
Sang Hùng Vương được 18 đời
Tiên Hoàng ngày trước mở ngôi
Cờ lau lập trận thay trời trị dân
Mão được 12 dư xuân
(1) Lê Hoàn kế vị xa gần âu ca
Truyền đã được mười ba rằm lẻ
Đến Ngọa triều nào kể tài năng
(2) Ngôi trời truyền đến Lý nay
Long thành bát diệp đến ngày dực phân
Chiều Hoàng là ả nữ quân
(3) Mê về nhan sắc trào trần thái tôn
………………………………………………..
Trăm bảy mươi in dấu thất niên
Đông A chốn ấy còn bền
Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam
Thái ngu được mười bốn năm
Hậu thập nhị để lại trăm đố hồi
Suy ra mới biết sự trời
(4) Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia
Mười đời ngồi ngự ngai vàng
(5) Lại phải Mạc thị thiêu tàn kinh thư
Xưa làm lực sỹ đồ du
Trời cho nên trị làm vua một đời
Sáu mươi năm bất tái hồi
Tống Sơn chốn ấy có đời thạch công
Định mưu phù lập Trang Tôn
Phù Lê diệt Mạc anh hùng ai đương
Lại bàn bỉnh chính Sóc Sơn
(6) Trịnh Vương toan chiếm ngai vàng Lê gia
(7) Tây Sơn sừng sực kéo ra
Nghiệm xem thế tục gọi là hiệu chi?

Chú thích:
(1) Vua Lê Đại Hành, sinh ở xã Bảo Thái, Thanh Liêm
(2) Tên gọi Công Uẩn sinh ở chùa tháp Bắc Ninh khi đẻ có báo điềm rất lạ
(3) Trần Thái Tôn tên là Cảnh, quê ở Tức Mạc, huyện Thiên Trường – Nam Định nhờ có chú là Trần Thủ Độ mà được thiên hạ.
(4) Ý nói Lê Thái Tổ tên gọi là Lê Lợi quê ở núi Lam Sơn thuộc Thanh Hoá có Thanh kiếm thần mà giết được giặc Liễu Thăng, Hoàng Phúc.
(5) Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời của Mạc Đinh Chi
(6) Trịnh Kiểm
(7) Nguyễn Huệ hiệu là Quang Trung phò nhà Lê diệt nhà Trịnh

Lại có Ngạn Bằng:

Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Chú thích: Nguyễn Huệ ra đời cả cha cả con cầm quyền được 14 năm thì hết.

Có thơ rằng:

Cha nhỏ đầu con lại nhỏ chân
Nào ai có biết nguỵ quân cầm quyền
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
Nọ nào ngang dọc trong huê
Mà cho thiên hạ khôn bề làm ăn
Chó mừng chủ, gà cũng cục tác
Lợn ăn no tha rác, chuột chơi

Ngạn lại có câu rằng:

Già bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa
Lợn ăn no un ỉn nằm
Mới kể là đời thịnh thế
Mà thiên hạ sao nỡ sẻ làm hai
Bởi Tần Vương u mê chẳng biết
Rồi phen này dê lại diệt dê
Tới khi thực tận kinh bì
Âm binh ở giữa ai thì biết sao
Trời cho ta giơ dao giết quỷ
Khắp dưới trời bằng quỷ khư khư
Ai từng cứu con thơ sa giếng
Giốc một lòng chinh chiến đua nhau
Muôn dân chịu thuở âu sầu
Kể dư dôi ngũ mới hầu khoan cho
Chốn đông nam là nơi khổ ải
Lánh cho xa kẻo phải đao binh
Bắc kinh mới thực đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Vả mình là đấng anh hào
Đánh làm sao được ước ao đêm ngày
Bò men lên núi Vu Sơn
Thừa cơ mới nổi một cơn phục thù
Ấy những quân phụ thù thui thủi
Lòng trời xui ai lại biết đâu…

Chú thích: Đoạn này theo tôi Sấm nói về Nguyễn Huệ. Cha con Nguyễn Huệ ra đời được 14 năm thì hết. Nguyễn Huệ chết như gà mẹ bỏ con. Sau đó Nguyễn ánh lấy lại được giang sơn.

Có thơ rằng:

Dần Mão chư dương giai vị cập
Lai chiêu lục thất xuất minh quân
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ điện trường ức vạn xuân

Chú thích: Đoạn này nói về nhà Nguyễn và thực tế cung đình nhà Nguyễn hiện nay đã được thế giới công nhận là di sản văn hoá thế giới (rất đúng) nên tồn tại đến muôn đời.

Có thơ rằng:

Hậu đáo Kê lai khởi chiến qua
Thuỳ Tri thiên hạ chuyển như sa
Anh hùng mai thảo mã
Tướng suý tận tiêu ma
Phá điền thiên tử xuất
Tráng sỹ tảo sơn hà
Gà kia bên tường khuya sớm gáy
Chẳng yêu ra áy náy bất bình

Chú thích: Năm thân (khỉ) Năm dậu (gà) gây sự đánh nhau. Ai hay thiên hạ xoay chuyển như cát bụi, anh hùng chôn ở bụi cỏ , da ngựa bọc thây, vở ruộng thì vua ra, đuôi dài quét núi sông. Theo tôi đây là nói đến thời đại cộng sản vua là Hồ Chí Minh.

Có thơ rằng:

Hoành Sơn phân giải
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh (1)

Chú thích: (1) Đây nói về Hồ Chí Minh ra đời.

Thơ rằng:

(1) Hầu nguyệt thỏ đầu xuất
Chấn đoài cương bất chấn
Quần Vương giai đạo tặc
(2) Bách tính khổ tai ương
Ma vương sát quỷ tướng
Hoàng thiên chu ma vương
Thuỷ trung tàng bảo cái
Thử thi thánh nhân hương

Chú thích:
(1) Đoạn này nói năm hầu (thân) là 1944 – 1945 thì thánh nhân (tức Hồ Chí Minh) xuất hiện ra
(2) Thánh nhân ra làm cho bách tính khổ về những tai ương. Đến cung chấn cung đoài thì không giữ được nữa. Thuỷ Trung là làng Sen quê ông Hồ Chí Minh.

Có thơ rằng:

Một đám mây xanh đứng giữa trời
Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi
Thiên hạ mười phần còn có một
Bây giờ Bách Sỷ mới ra đời
Thầy tăng mở nước trời không bảo.
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham của tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu an thân
Đằng giang chốn ấy cũng gần
Kim ngưu chốn ấy cũng lần tới nơi

Chú thích:
- Đảng Cộng Sản Việt Nam sau nay chia ra ba phái rồi thì ba phái gây ra sự đánh nhau. Thiên hạ mười phần còn chỉ lưa một phần là còn tin Đảng mà thôi. Lúc này ông Bạch Sỉ ra đời. Thầy tăng (là thằng tây) chỉ nước Mỹ giúp đỡ Việt Nam thì những kẻ tham của, tham giàu (chỉ các quan tham của cộng sản phải tìm nơi tam hiểm mới an thân được).
- Đăng giang là sông Bạch Đằng, Kim Ngưu là Hồ Tây.

Thơ rằng:

Ba thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi Trú đình
Bốn bề núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu, Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân.

Chú thích: Đoạn này nói chỗ cư trú của ông Bạch Sỉ. Bốn bụt nghĩa là bốn ông thánh đều theo Đạo phật. (Nghiêu, Thuấn) là hai vua hiền ở Trung Quốc (ý nói ông Lý Đông A như Nghiêu Thuấn)

Thơ rằng:

Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Chữ rằng “Hữu xạ tự nhiên hương”
Có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
Nắng lâu ắt có mưa rào
Vội chi tát nước xôn xao cày bừa
Nắng rồi thì phải có mưa
Buồm đang đợi gió cày bừa đợi cơn
Tuần này thánh xuất khảm phương
Sự thật đã tường chẳng lo phải say
Tuần này thiên địa chuyển hồi
Thiên sầu địa thảm lòng người chẳng yên
Trời sai quỷ sứ dọn đường
Để cho thánh xuất khảm phương sau này
Vội chi đua sức ra tay
Người vội cày bừa ta sẻ cấy chơi
Suy cho thấu biết sự đời
Sấm ký mấy lời sự thực chẳng ngoa

Chú thích: Đất nước Việt Nam loạn lạc, thiên sầu, địa thảm lòng người bất an, ai cũng mong thời thế thay đổi cuối cùng thì ông thánh xuất ở khảm phương ra cứu muôn dân. Đó là ông Lý Đông A có hiệu là Trần Kha.

Thơ rằng:

1- Tích nhất đương lang khởi bộ thuyền
2- Ưng tri hoàng thước tại thân biên
3- Tước bị lạm nhân cung đạn đả
4- Lạp nhân cách tự hổ lang huyên
5- Tuệ tinh xuất long xà
6- Thần xuất cửu cửu gia
7- Ngưu mã thiên hạ động
8- Đinh hạ nãi Đông A

Chú thích:
1- Đương lang là con bò ngựa, thuyền là con ve sầu.
2- Nên biết rằng là con chim sẻ ở bên cạnh mình xót thời thế thì cả ba con đều bị mất mồi ăn.
3- Chim sẻ bị người ta săn bắn
4- Đi săn phải hổ đuổi
5- Năm Thìn, năm Tỵ có sao chổi ra điềm lạ (2000- 2001)
6- Thần ra điềm chẳng lành chín chín nhà.
7- Sửu Ngọ niên thiên hạ giao động (1985 và 1990)
8- Dưới chữ đinh biến ra chữ trần. Nghĩa là ông thánh có hiệu là “Trần Kha”

Thơ rằng:

Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng rằng gặp hội hiển vinh kêu hò
Nhị Hà một giải quanh co
Chính thức chốn ấy cố đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nghêu ngao
Có bến mưa rào có thứ cùng chăng
Nói đến độ Thầy Tăng mở nước
Đánh quỷ sứ xuôi ngược đi đâu
Bấy lâu những cậy phép mầu
Bây giờ phép ấy để đâu không hào?
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình chơi vào quận Ngô Tề

Chú thích: Theo tôi thì Đảng cộng sản bấy lâu cậy mình tài giỏi nhưng đến lúc “Thầy tăng” là thằng tây mở nước thì Đảng không còn những (phép mầu nữa) mà đã trở thành quỷ sứ cuối cùng đảng tan thì có những kẻ chạy qua Trung Quốc chứng tỏ đảng cộng sản Trung Quốc mất sau cùng.

Thơ rằng:

1- Di lặc giáng sinh
2- Sa phù dĩ chỉ
3- Lục thất dĩ thành
4- Kiến long sào kinh
5- Nhật xuất điện thượng
6- Thiên hạ thái bình

Chú thích:
1- Đức di lặc phật giáng thế
2- Có các bùa phép để trừ
3- Sáu bảy năm mới thành
4- Dựng kinh đô ở trên hang con Rồng (Hà Nội)
5- Trên cung điện có mặt trời chiếu xuống
6- Lúc này thiên hạ được thái bình

Thơ rằng:

Giang Nam nổi trận mạt thù
72 tướng phò vua ngất trời
Phùng trời nay gặp thái lai
Can qua chiến trận kể người phong công
Trẻ già được hết sự lòng
Ghi làm một bản nội phòng mở xem
Rước vua về đến Tràng An
Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời
Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Thái bình mới động thập thò liền sang
Ngang cung văn vũ khác thường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thuỷ binh cờ xí vừng hồng
Bộ binh rầm rập như ong kéo đàn
Đứng hiên ngang nào ai biết trước
(1) Bắc kinh sang có việc gì chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
(2) Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng dục dân cày bừa
Đã ngu dại Hoàn linh đời Hán
(3) Đúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những cậy thánh thần
Ai ngờ thiên địa xoay vần đã công
Ngẫm hoá công sáu tay khôn ví
Xưa phục thù ai sửa ngôi cho
Mạc kia cũng muốn nên trò
Dấy binh hai Quảng cơ đồ ghê thay!
Kẻ thì tự xưng Lê nay
Tam phân rồi chẳng được gì cả ba.
Bốn phương cũng có can qua
Mạc thì chẳng được đã ra lại về
Quân hùng binh giấy giang khê
Kẻ khoe cứu nước, người khoe trị vì…

Chú thích:
1- Quân Trung Quốc sang
2- Lịch sử nước Việt Nam chưa có sự lạ lùng nào hơn là đảng đã luôn vu vạ cho dân (như vu khống các đảng viên đảng cộng sản, vu khống cho các nhà đấu tranh cho dân chủ)
3- Quan chức đảng cộng sản đều dùng tiền mua cả.
4- Lúc này có lẽ nhân dân nổi dậy.
Đoạn này ý nói có 72 tướng giỏi phò ông Lý Đông A và các tướng cộng sản sau này khi gặp quân ông Lý Đông A thì đều đầu hàng và theo ông Lý Đông A cả. Quân đội ông Lý có bộ binh, thuỷ binh. Sau rước ông Lý Đông A về Hà Nội. Sau đó Trung Quốc sang nhưng không làm được gì, đành phải về.
Còn đoạn này nói những người cộng sản đã ngu dại như Hoàn Linh đời Hán nên họ đã nhờ và dựa vào Trung Quốc và Trung Quốc đã dấy binh ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhưng rồi thời thế đã không làm gì được đành phải chịu về chắc lúc này có nước Mỹ (thầy tăng) can thiệp chăng?

Thơ rằng:

1- Hầu đáo kê lai vị chính kỳ
2- Quốc dân hãm nịch quốc dân di
3- Nhân giãn giục dĩ chu nhi tống
4- Phong nhĩ tung hoàng thị mạc vi

Chú thích:
1- Năm thân, năm dậu cũng chưa thành
2- Dân bị hãm hại, quân lại di đi nơi khác
3- Nước nhà đa sự thì nhà Chu thay lên làm nhà Tống cũng thế (ý nói đảng cộng sản thì ai lên nắm quyền thì cũng đều thế cả)
4- Ong kiến đã tung hoành làm lấy các việc lớn (Ong kiến chỉ bọn tiểu nhân thực tế là chỉ Triều đinh đảng cộng sản).

Thơ rằng

(1) Hạ huyên thượng đảo quân vô chủ
(2) Tài tận dân hao thế lực suy
(3) Huyết chiến dê đầu nhân huyết chiến
(4) Kham tiếu không huyền tiếm thất ky
Xem thấy những sương sam tuyết lạnh
Loài bất bình tranh cạnh hung hăng
Thành ao cá nước tưng bừng
Kẻ xiêu dòng hải người tàn bắc lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất người nằm đầy sông
Sang thu chín huyết vừng hồng
Kẻ mong ngày hạ người mong mưa nhuần
(5) (*) Trẻ con mang lệnh tướng quân
Ngỡ uy đã sợ ngỡ nhân đã nhường
Dùng uy bát là đường ngũ bá
Cũng tưởng rằng đế tá dân hoan
Cỏ cây lá rụng đầy ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết có nhà Đà giang
Tả bạch hạc, Hữu thuỷ trường
Kiều môn án trước cao bành tựa sau
Thái nguyên cận bắc đường sau
Hễ mà tìm thấy mới hầu thần cơ
Cùng nhau gặp mặt bây giờ
Trúc mong kỳ úc thung chờ non đông
(6) (*) Vui mừng gặp mặt tam công
Cá được hoá rồng trăm trắm ngôi cao
Mai kia cùng đấng anh hào
Ba người làm bạn ngôi cao lộc lành
Vậy nên một áng phong tình
Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng
Bõ khi chém lợn vẽ rồng
Bõ khi vay mượn điều cùng trượng phu
Bõ khi kẻ Việt người Hồ
Bõ khi kẻ Sở người Ngô xa đường
Ngày thường trông thấy quyển vàng
Của riêng quốc bảo xé mang xem chơi
Tinh thái ất giờ đời là thực
Sấm trời xem vô giá muôn phần
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thập gian
Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình
(7) (*) Thấy đâu bò đái thất thanh
ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuôn buồn
Đàn ghi nó cũng một môn phù trì

Chú thích:
1- Chính quyền đảng cộng sản trên dưới đảo ngược như không có chủ
2- Tài hết, thế lực hết nên nước suy
3- Dân ra đánh nhau máu chảy thành sông
4- Chính quyền chẳng khác gì cái đàn không có dây
5- Chiến trường dân nổi loạn khắp nơi. Ông Lý Đông A ra đời kẻ cầm quân của đảng cộng sản chả có tài cán gì như đứa trẻ con nên đã dễ đầu hàng.
6- Ở Thái Nguyễn cận phía Bắc có ba người giỏi gặp ông Lý Đông A. Sau họ đều là những người nắm quyền trong chính phủ mới của ông Lý Đông A
7- Ở Bắc cạn có cái suối chảy, nước như là con bò đái cả ngày, lúc nào ngừng chảy thì ông thánh ra đời.

Thờ rằng:

Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ đuốc sáng rõ ràng mọi nơi
Can qua việc nước bời bời
(1) Trên thuận lòng trời dưới đẹp lòng dân
Lục thất dư ngũ bách xuân
Bây giờ trời mới xoay vần nơi nao
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa

Chú thích:
(1) ông Thánh Lý Đông A ra đời thì thuận lòng trời và đẹp lòng dân. Nhân dân ai cũng theo ông Lý Đông A cả, kể cả đảng viên đảng cộng sản.

Thơ rằng:

Quân hùng binh kéo đầy khe
Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời
Bấy giờ càng khốn ai ơi
Quỷ ma chật vật biết trời là đâu?
Thương những kẻ ăn rau, ăn muối.
Gặp nước buông con cái ẩn đâu?
Báo thù ấy chẳng sai đâu
Đạo trời chẳng trước thì sau chẳng nhầm
Kia những kẻ hai lòng sự chủ
Thấy đâu hơn thì phụ sở ân
Cho nên phải kiếp trầm luân
Ai khôn mới giữ được thân đời này
Nói cho hay khảm cung ong dậy
Chí anh hùng chiếm lấy mới ngoan
Chữ rằng lục thất nguyệt đan
Ai mà nghĩ được mới nên anh tài
Hễ nhân kiến là đời đất cũ
Thì phụ nguyên mới trổ binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quân hùng nổi dậy điều hoà làm tôi
Bấy giờ ruộng mở quy khôi
(1) Thần trâu thu cả mọi nơi vẹn toàn
Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Hoàng phúc kia đã định tay phong
Lồng lộng thế giới rạng trong
Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương
Giời sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu là chí cao Quang là tài
Xem ý trời có lòng khải thánh
Giốc sinh hiền điều chỉnh hộ mai
Trên trời thấy những vì sao lạ
Dùng ở tay phụ tá vương gia
Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch Sỷ điều hoà hôm mai
Song thiên nhật tượng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
Đời này thánh kế vi vương
Thu cả đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác thường
Thác cư một góc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ sẻ mới ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
Xem sắc mây vẽ rõ vẻ rồng
Thánh nhân cư có thuỷ cung
Quân thần đã định gia lòng chớ tham
Lại dặn đừng tú man chi cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết nhẽ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
(2) Bất kỳ nhi ngô tưởng gì đợi mong
Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tý đều không
Ví dù có gặp Ngư Ông
Lưới chăng đầu sẵn nên công mà hòng
Xin khuyên đứng trời trung quân tử
Lòng trung nghĩa hãy chứa cho tinh
Âm dương cơ ngẫu ngộ sinh
Thái nhâm, thái ất trong mình cho hay
Văn thi huyện nghiên bài quyết thắng
Học tử phòng cùng với Khổng Minh
Võ thông yên thuỷ thần kinh
Được vào chiến trận mới lành biết cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết trao tay miệng tiếng nói không
Ngộ may gặp hội mây rồng
Công danh rực rỡ chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí tài
Lọ là đâu phải ngược xuôi nhọc mình
Vương lương thực có vĩ kinh
Cao tay mới biết ngẫm tình năm nao
Trên trời có mấy vì sao
Đủ cả hiền tướng anh hào đòi nơi
Nước Nam thường có thánh tài
Ai khôn học lấy hôm mai mới tường
So mấy lề để tàng kim quỹ
Chờ sau này có chí mới nên
Trước là biết nẻo tôn phù
Sau là cao trí biết lo mặc lòng
Xem đoài cung thiên thời bất tạo
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham tước, tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
Đôi phen ong dấy rầm rầm
Muông sinh ba góc kéo quân dấy loàn
Man mác một lĩnh hoành sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
ấy là quân phục thù thai thải
Lòng trời xui ai lại biết chi
Phá điền đầu khỉ cuối thu
Tài binh mọi giống thập thò liền sang
Nọ chẳng thương trong nam khôn xiết
Vả lại thêm hung kiết mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Sang thu chín huyết hồng tứ giã
Nối đàn dê tranh phá đòi nơi
Đua nhau quân thán đồ lê
Bấy giờ thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải lửa hung hoang
Kẻ thì binh lửa chiến tràng chết oan
Kẻ thì bận của bông toan khốn mình
Muông sinh giông tố cạnh tranh
Điêu thì làm tước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh hành
(3) Ra đâu đánh đấy xuất binh sớm ngày
Bể thành cá phải ẩn cây
Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
Nào ai đã dễ nhìn ru
Thuỷ chiến bộ chiến mặc dầu đòi cơn
Cây bay lá cháy đôi ngàn
Một làng còn nhấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết nơi hoà bảo thân
Đoài phương thật có chân nhân
Quần tiên dĩ nghĩa chẳng phân hại người
Hễ đông nam nhiều phen tàn tặc
Lánh cho xa keo mắc đạo binh
Bắc kinh mới thật đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ giấu danh được nào
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
Cấy cày tu dãi thời mùa
Bây giờ cấy ruộng lo chờ mướn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền binh nhọc chẳng phiền lương thêm
Xem tượng trời biết đường đời trị
Ngẫm về sau họ lý xưa nên
Dòng nhà đã thấy dấu truyền
Ngẫm xem thế giới còn in đời đời
Thần quy có nó ở trời
Để làm thần khí sửa nơi trị trường

Chú thích:
Đoạn này nói tài đức của ông Trần Kha (Lý Đông A) cuối cùng sấm kết luận chỉ có họ Lý là trường tồn mãi mãi và ông Lý Đông A không làm hại đến ai cả. Là người nhân đức tài giỏi thật sự. Khi ông thánh ra thì không ai ngờ được cả, Sấm còn khuyên ai đi theo ông thánh mà có tài thì như gặp hội mây rồng người đó sẽ có công danh.
1- Ông Lý Đông A ra đời thì ông Lý đã thu lại được giang sơn đất nước đã bị đảng cộng sản Việt Nam nhường cho Trung Quốc
2- Ông Lý Đông A ra đời rất đột ngột và không ai biết trước được cả
3- Quân ông Lý Đông A ra đâu đánh đấy, giống như quân của Hàn Tín thời nhà Hán vậy.

Dân bị khổ chiến trong 10 năm

Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Sông bảo giang thiên định ai hay?
Lục thất cho biết ngày rầy
(1) Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê
Có thầy nhân thập đi về
(2) Tả hữu phù trì cây cỏ là quân
Dốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều đỉnh hộ mai
Bấy giờ mới biết rằng tài an dân
Nọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân đi về

Chú thích:
1- Họ Nguyễn (Chữ phụ bên chữ Nguyên)
2- Bên tả, bên hữu của ông họ Nguyễn (Cây cỏ là quân) ý nói bên tả bên hữu ông họ Nguyễn đều là bọn tiểu nhân cả. Nguyễn là Hồ Chí Minh và dân bị khổ chiến trong 10 năm (rất đúng)

Những câu sấm ngắn

(1) Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nhà Nguyễn thất thế nhà Lê trị vì

(2) Bao giờ giặc đánh trên mây
Ăn chia công điểm dân cày khổ ghê

(3) Bao giờ đá nổi lông chìm
Đồng khô hồ cạn búa liềm đánh nhau

(4) Mười phần chết bảy còn ba
Lưa hai phần rưỡi mới ra thái bình

(5) Bao giờ giấy bạc thành tro
Cua đồng đổi cọng chữ nho lại về

(6) Khi nào O mụ cầm quyền
Thì dân trăm họ đeo phiền lắm ru

(7) Trực đáo dương đầu mã vị
Hồ công bát vạn nhập tràng an
Phong công hầu bách vạn dư thiên
Khinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc

(8) Trắng đầu làm tội chưa qua
Đỏ đầu làm tội bằng ba trắng đầu

(9) Thật thà ăn cháo, lếu láo ăn cơm

(10) Khôn chết, dại chết, biết sống

Chú thích:
1) Nguyễn ái Quốc đi ra nước ngoài, sau Nguyễn về. Sau đó thì Nguyễn Thất thế bị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tiếm quyền (rất đúng thực tế) và đến năm 1965 thì Cụ Hồ không còn quyền hành gì nữa.
2) Đến thời đại có máy bay đánh trên không thì cũng là Đảng Cọng Sản lùa dân vào hợp tác xã nên đã ăn chia công điểm và thời ấy dân rất khổ.
3) Đá là Tưởng Giới Thạch, lông là Mao Trạch Đông, đồng là Phạm Văn Đồng, Hồ là Hồ Chí Minh. Nghĩa là Sấm muốn nói sự nghiệp họ Tưởng thì càng ngày càng thịnh, còn Mao, Đồng, Hồ đều như là ruộng hồ cạn mà thôi, nghĩa là rồi mất dần. Rồi các Đảng Cọng Sản tự đánh lại nhau.
4) Trong thế giới cộng sản có khoảng 15 nước dến khi thế giới cộng sản mất gần hết chỉ còn lại Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào thì nước Việt Nam Đảng cộng sản mới đi theo xu thế hoà bình coi tất cả các nước là bạn (rất đúng thực tế).
5) Năm 1985 đổi tiền nên phải đốt tiền, sau đó cua đồng đổi cọng thì Đảng cộng Sản lại đề cao “Văn hoá dân tộc” và tư tưởng nho giáo đã trở lại với dân tộc Việt Nam.
6) Khi chính quyền Đảng Cộng sản có bà Bình, bà Trương Mỹ Hoa cùng nắm quyền (làm phó chủ tịch nước) thì dân trăm Họ luôn phải đeo phiền và bị oan trái.
7) Đến đầu năm Mùi cuối năm ngọ (1945) 8 vạn binh của họ Hồ đến Hà Nội, ông Hồ đã phong tước công, tước hầu dư ra hàng vạn, hàng nghìn người. Ông Hồ đã dùng toàn những kẻ tiểu nhân sau đó xẩy đến mất nước (rất đúng thực tế hiện nay)
8) Pháp cai trị chưa qua, cộng sản cai trị ác gấp ba lần pháp.
9) Ý nói sống trong thời đại cộng sản thì phải dối trá, chứ thật thà là chết.
10) Người tài thì bị đảng giết, người dại thì bị đảng lừa; người nào sống xu thời nịnh bợ thì sống yên được.

Những bài sấm ngắn

Trời sinh thiên tử ở hoả thôn
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
(1) Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử bảo giang môn
Canh tân tàn phá (2)
Tuất hợi phục sinh (3)
Nhị ngũ dư bình (4)
Nhân sinh ngọ tuế vi sư (5)
Tị nhân vị tướng (6)
Thìn tuất vị tôn sư (7)

Chú thích: Đoạn này nói về Hồ Chí Minh
1- Hồ Chí Minh trước khi sinh ra cha và mẹ đã xa nhau mỗi người ở một nơi (rất đúng thực tế)
2- Năm 1930 – 1931 tàn phá (Xô Viết Nghệ Tĩnh)
3- 1946 – 1947 thì đảng cộng sản mới khôi phục lại được phong trào.
4- Đảng cộng sản ra đời 1930 đến năm 1954 là 25 năm mới có chính quyền thật sự (mới bình định được)
5- Ai sinh năm ngọ được làm thầy
6- Người sinh năm tị được làm tướng
7- Người sinh năm thìn năm tuất thì được làm thầy chính tông. (ý nói phong nhiều quan lại quá).

Thơ rằng

1- Thánh nhân hương
2- Thuỷ chung tàng bảo cái
3- Thánh nhân chu xứ
4- Tử bích hoàn nhiễu, long hổ chầu vào
5- Chỗ thánh nhân sinh ra
6- Cận bảo giang thuỷ
7- Thuỷ nhiễu chu toàn
8- Thánh nhân danh
9- Mộc hạ liên đinh khẩu
10- Thánh nhân diện bộ đạo đức
11- Nghi quảng tầm chương trích cú
12- Thánh nhân dĩ hữu niên
13- Thuỳ năng thức đắc yên
14- Dãn nhân bất chúc nhĩ
15- Nhập ba thục xuất thái nguyên
16- Thánh nhân sinh ư bách sỉ tự tối linh
17- Thử nhật thiên giáng ngũ sắc vân xích quang màn tự
18- Tự trung dị hương, tam nhật bất tán
19- Thầy tăng tu tại thử, dĩ vị thánh nhân thị
20- Toại chưởng dưỡng chi
21- Thánh mẫu diện xú như lam
22- Niên tam thập lục sinh thánh nhân
23- Hoài nhâm chi nhật
24- Tam nhật thực nhất lý ngư
25- Cư ư giang thượng
26- Quần ngư tranh được
27- Mối trạch kỳ, mỗi tiểu chữ thục thực chi
28- Hậu thường tầm thực chi vu bạch sỉ
30- Nhược ấu thời, cư tại nam nhi thuỷ huyện
31- Cận gia quan thời cư ư thái nguyên viên sơn
32- Thất thập nhị hiền diệc tại thử yên

Chú thích:
1- Nơi sinh ra ông Thánh nhân
2- Trong làn nước biếc chứa tàn lọng quý
3- Chỗ trú ngụ của Thánh nhân
4- Long hổ bốn bên chầu cả vào
5- Nơi sinh ra Thánh nhân
6- Gần sông Bảo giang
7- Xung quanh đều có nước
8- Tên hiệu của Thánh nhân
9- Chữ mộc ở dưới chữ đinh là quẻ ly
10- Ông thánh nhân diện mão rất có đạo đức
11- Nên tìm rộng từng bài chọn từng câu
12- Thánh nhân sinh ra đã lâu năm
13- Ai đã dễ biết được
14- Vì người ta chẳng biết vậy
15- Vào Ba Thục, ra Thái Nguyên
16- Thánh nhân sinh ở chùa Bạch sỉ rất thiêng
17- Ngày ấy sinh ra ông thánh nhân trời có năm sắc mây
18- Đỏ sáng khắp cả chùa
19- Chùa trong có mùi thơm ba ngày không hết
20- Lúc bấy giờ có ông sư tu cho điềm lạ có thánh nhân.
21- Sư bản tự nuôi lớn cho đến trưởng thành
22- Mẹ ông thánh nhân mặt xấu như đổ chàm
23- Bà mẹ 36 tuổi sinh ông thánh nhân
24- Tính từ ngày có thai
25- Trong ba ngày lại ăn một con cá chép
26- Trú ở bên sông
27- Lũ cá tranh nhau nhảy vào
28- Chọn xem con nào bé thì nấu ăn
29- Sau thường đi kiếm ăn quanh chùa Bạch Sỉ
30- Rồi sinh ra ông thánh nhân
31- Lúc nhỏ sinh ở Nam nhị thuỷ huyện
32- Lúc lớn ở Thái Nguyên núi Viên Sơn

72 người hiền đều ở cả đây
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh nhân ở Bạch Sỉ tên là Lý Đông A. Ông Lý Đông A là con của bà ăn mày có diện mạo rất xấu

Thơ vận niên bằng tên các con súc vật

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn sà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho hả dạ
Lợn kia làm quá phải xoay đầu
Chuột nọ lăm le mong cắn tổ
Ngựa kia đủng đỉnh chạy về tàu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về chốn cũ bắt vào tầu
(1) Lợn nằm cũng thấy tên thù
(2) Đại binh đã động phục thù nghênh ngang
Thánh chúa đang ở hang vàng
(3) Khi nào chuột bắc cầu sang mới về

Chú thích:
1- Theo tôi qua năm hợi 2007 thì nhân dân Việt Nam thấy được kẻ thù của nhân dân là ai.
2- Lòng quân dân đã giao động rất nhiều và họ muốn phục thù (hoặc là đại binh của ông Lý Đông A đang chuẩn bị ra đánh)
3- Qua năm chuột (2008) thì có lẽ ông thánh về

1- Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tân
2- Trực đáo dương đầu mã vĩ
3- Hồ công bát vạn nhập Tràng An
4- Phong công hầu bách vạn dư thiên
5- Kinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc
6- Thực vị lai tại thực vi lai
7- Nam môn vị toả, bắc môn khai
Phong suy ngọc diện lai lai vãng
8- Nghĩ tụ kim thành khứ khứ hồi
9- Bách tính âu ca thiền vũ dạ
10- Cửu châu hoa thảo mả liên đôi
11- Thử hồi nhị ngũ thiên chu tống
12- Hảo bá sơn đầu tửu nhất bôi
13- Thiên địa tuần hoàn âm phục dương
14- Tứ phương binh khởi tứ phương cường
15- Tây dương cảnh giới tây dương chủ
16- Nam quốc sơn hà, nam quốc vương
17- Lý đỉnh tương huyền, hiềm đỉnh trọng
18- Mạc thành dục chúc, khủng thành trường
19- Hoành sơn lộc tẩu nhân dân cộng
20- Thái lĩnh long phi thục cảm đương

Chú thích:
1- Chín chín càn khôn trời đã định trước
2- Đến đầu năm mùi cuối năm ngọ (1954)
3- Tám vạn binh của họ Hồ đến đất tràng an
4- Họ Hồ phong tước công, tước hầu dư
Ra hàng vạn, hàng nghìn người
5- Họ Hồ dung bọn tiểu nhân sau xẩy đến mất nước
6- Ai chưa lại vậy hay chưa lại
7- Chưa khoá cửa nam, đã mở cửa bắc
8- Lũ kiến ở thành vàng đi rồi lại về
9- Trăm họ xướng ca mà âu sầu về đêm
10- Khắp nơi mả chôn như cỏ mọc
11- Hồi bấy giờ dân chúng nhường ngôi cho nhà Chu không phải đánh nhau.
13- Trời đất xoay vẫn âm suy dương thịnh
14- Bốn phương quân khởi bốn phương mạnh
15- Đất phương tây thì chủ tây
16- Sông núi Nước Nam thì Vua Nam
17- Cái đỉnh của nhà Lý muốn treo hiếm đỉnh nặng
18- Thành nhà Mạc muốn đắp sơ thành dài
19- Con hươu ở núi Hoành Sơn chạy đi với nhân dân rồi lại chạy về (Câu này ý nói đầu cụ Hồ đi con đường dân tộc độc lập, nhân dân tự do nhưng sau lại trở lại học thuyết Mác Lê Nin)
20- Ở trong núi Thái Lĩnh có con Rồng bay ra, ai dám địch.
Đoạn này sấm nói đến sự ra đời của đảng cộng sản và ông HCM mà nhân dân ta đã phải chịu cảnh đau khổ mồ mả chôn nhiều như cỏ mọc.

Có thơ rằng

1- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
2- Can qua xứ xứ khởi đao binh
3- Mã đầu dương cước anh hùng tận
4- Thân dậu niên lai kiến thái bình

Chú thích:
1- Cuối năm thìn đầu năm tỵ gây ra đánh nhau
2- Khắp nơi khí giới gây ra sự đánh nhau
3- Từ năm ngọ đến năm mùi các vị anh hùng đều chết dần hết
4- Năm thân năm dậu mới có thái bình
Theo tôi đây là sấm nói về cuộc chiến tranh thế thới lần thứ hai, chống phát xít Đức, ý, Nhật.

Thơ rằng

1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành
3- Lê dân đào bảo noãn
4- Tứ hải lạc âu ca
5- Dục thức thánh nhân hương
6- Quá kiều cư bắc phương
7- Danh vị Nguyễn gia tử
Kim tịch sinh Ngưu lang
8- Bắc hữu kim thành tráng
9- Nam tạc ngọc bích thành
10- Hoả thôn đa khuyển phệ
11- Mục giã dục nhân canh
12- Phú quý hồng trần mộng
13- Bần cùng bạch phát sinh
14- Anh hùng vương kiếm kích
15- Minh cổ đổ thái bình

Chú thích:
1- Sông Bảo giang có vị Thiên tử giáng
2- Chẳng đánh mà tự nhiên thành (rất đúng nhờ Nhật Pháp đánh nhau nên đến ngày 2-9-1945. Cụ Hồ không cần đánh mà vẫn đọc được bản “Tuyên ngôn độc lập” ở Ba Đình – Hà Nội)
3- Nhân dân chạy trốn trở về được no ấm
4- Bốn phương vui mừng đều hát xướng (Chứng tỏ lúc đầu nhân dân rất tin vào Hồ Chí Minh)
5- Muốn biết làng ông Thánh nhân
6- Qua cầu đi về phương bắc
7- Tên dòng dõi nhà họ Nguyễn
8- Bắc phương có thành vàng bền chặt
9- Phương nam có một viên ngọc biếc
10- Ở xóm lửa nhiều chó cắn
11- Bỏ súc vật để người canh
12- Giầu sang giấc mộng hồng trần
13- Nghèo đói quá sinh tóc bạc
14- Vua ban cho người anh hùng một thanh kiếm
15- Người mù loà cũng mong được thái bình (Đất nước nghèo khổ chiến tranh ai cũng mong thái bình cả).

Thơ rằng:

1- Việt Nam hữu Ngưu tinh
2- Quá thất thân thuỷ sinh
3- Địa giới sỉ vị bạch
4- Thuỷ trầm nhĩ bất kinh
5- Kỵ mã khu dương tẩu
6- Phù kê thắng đại minh
7- Trư thử giai phong khởi
8- Thìn mão xuất thái bình
9- Thuỷ chung tàng bảo cái
10- Hứa cập thánh nhân hương
11- Mộc hạ trâm trâm khẩu
12- Danh thế xuất nan lường
13- Danh vị nguyễn gia tử
14- Tinh bản tại ngưu lang
15- Mại dữ liên viên dưỡng
16- Khởi nguyệt hộ đại giang
17- Hoặc kiều tam lộng ngạn
18- Hoặc ngụ kim lăng cương
19- Thiên dữ thần thực thuỵ
20- Thuỵ trình ngũ sắc vân
21- Kim kê khai lực diệp
22- Hoàng cái xuất quý phương
23- Nhân nghĩa thuỳ vi địch
24- Đạo đức thục dữ đương
25- Tô truyền nhĩ thập ngũ
26- Vận khải ngũ duyên trường
27- Vận đáo dương hầu cách
28- Chấn đoài cương bất chấn
29- Quần gian đạo danh tự
30- Bách tính khổ tai ương
31- Can qua tranh đấu khởi
32- Phạm địch thán hung hăng
33- Ma vương sát đại quỷ
34- Hoàng thiên chu ma vương
35- Kiến khôn phú tải khôn lường
36- Đào viên đỉnh phú quân dương tranh hùng
37- Cơ nhĩ ngũ thư hùng vị quyết
38- Nẻo Hoành sơn tam liệt ngũ phân
39- Ta hồ vô chủ vô quân
40- Đào viên tan tác ngô dân thủ thành
41- Đoài phương phúc địa giáng linh
42- Cửu trùng thuỵ ứng long thành ngũ vân
43- Phá điền thiên tử giáng trần
44- Dũng sỹ như hai mưu thần nhược lâm
45- Trần công nãi thị phúc tâm
46- Đào, tiềm, sử sỹ giang hồ xuất du
47- Tướng thần hệ xuất y chu
48- Chư cơ phục kiến, đường ngu thị thành
49- Hiệu xứng thiên hạ thái bình
50- Đông tây vô sự nam thành quốc gia
51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành
Tên treo ba mối phục thù
55- Khen thay khắc dụng bày trò cho con
Ngọn cờ nhô nhấp đầu non
56- Thạch thành mèo lại bon bon chạy về
Dặm trường lai láng máu dê
Con quay ngã trắng ba quê cuộc tàn
Trời nam giở lại đế vương
Thần nhân không phải là phường thầy tăng
Đồng giao đã có câu rằng
57- Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ
Bấy giờ quét sạch thử ly
Xin ai nhớ lấy sâm ghi kẻo lầm
Đương khi sấm chớp ầm ầm
Chẳng qua khó số để găm trị bình
Thất phu giám chống thư sinh
58- Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng
Nực cười những lũ bàng quan
59- Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây

Chú thích:
1- Việt nam có sao ngưu tinh
2- Mới sinh ra sự nhầm lỗi
3- Răng trắng khác địa giới
4- Đáy nước ta chẳng sợ
5- Cưỡi ngựa đuổi dê chạy
6- Phù gà thắng đại minh (câu này ý nói là đảng cộng sản thắng chính quyền miền nam. Dù chính quyền miền nam có đường lối chính trị, kinh tế đúng với thời đại)
7- Năm hợi năm tý đều dấy lên là những năm 1971 – 1972
8- Năm thìn năm mão thì thái bình nghĩa là đến năm 1975 – 1976 thì thái bình (thống nhất hai miền nam bắc)
9- Lòng chung thuỷ được che bằng lọng vàng quý (Đạo đức giả)
10- Sẽ được về đến quê ông thánh nhân
11- Bao nhiêu miệng khen ngợi dưới bóng cây
12- Tên ở đời ra khó mà lường được (Hồ Chí Minh rất nhiều tên giả)
13- Tên ở con nhà họ Nguyễn
14- Căn bản ở làng ngưu lang (hay là anh chăn trâu)
15- Bán cho anh Liên Viên nuôi
16- Khởi lên từ sông đại giang
17- Hoặc ở bờ sông tam động
18- Hoặc trú ở núi kim lăng
19-Trời đã cho các thần báo điềm lạ
20- Ứng hiện ra năm sắc mây
21- Gà vàng mở ra lá mạnh
22- Lọng vàng ra ở phương quý
23- Người nhân nghĩa không ai địch được
24- Người có đạo đức không ai bì được
25- Truyền được 25 năm (HCM ra đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945 đến năm 1969 thì chết đúng 25 năm)
26- Vận dài lâu được năm duyên (Sau ông Hồ thì còn được 5 người là Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh)
27- Vận đến năm mùi, năm thân thì có tai ách là các năm 2003 – 2004 thì đảng đã thật sự bị chia ra nhiều phe phái và nhân dân cũng như các nhà đấu tranh cho dân chủ bắt đầu nổi dậy.
28- Đến cung chấn cung đoài thì đảng hoàn toàn suy thoái đảng không còn giữ được nữa
29- Quân gian đọc trộm các pho sách quý (ý nói các đảng viên đảng cộng đọc những bài viết rất hay rất chí lý của các nhà đấu tranh cho dân chủ)
30- Trăm họ khổ về tai nạn đánh nhau
31- Khí giới đánh nhau càng mạnh liệt
32- Bị quân địch cướp khóc than về ức hiếp
33- Ma vương giết tướng quỷ
34- Hoàng thiên hại ma vương
35- Trời đất che đậy không đoán được
36- Trên núi kết nghĩa, quân tướng tranh ngôi nhau (Đoàn viên là kết nghĩa vườn đào của bái công, Quan công và Trương phi). Đây nói tình đồng chí của đảng cộng sản bị tan vỡ
37- Cơ trời định chưa xong
38- Nẻo Hoàng Sơn chia ra năm bè bảy mối (nẻo Hoàng sơn là nói về HCM) tức đảng cộng sản hoàn toàn bị tê liệt (Tinh thần ý chí liệt, tài đức liệt, niềm tin liệt), (Ngũ phân) là nói đảng cộng sản chia ra nhiều phe phái.
39- (Ta Hồ là Hồ ta) ý nói đảng cộng sản không có chủ như nước không có Vua, nhà không có nóc. Đảng cộng sản tan tác trên bảo dưới không nghe.
40- Ý nói đảng cộng sản tan tác, tranh nhau giết nhau; dân chỉ sống biết mình mà thôi
41- Năm sửu thì Vua ra (có thể năm 2009)
44- Tướng mạnh nhiều như bể, mưu hay lắm như rừng (*)
45- Ông Trần Chính thức là người lòng đầy phúc đức
46- Nhiều nhân sỹ ra nước ngoài học hỏi
47- Tướng giỏi đi rồi lại về giúp nước
48- Nhà Đường nhà Chu quyền hành (Nhà Đường nhà Chu là các thời thịnh trị ở bên Trung Quốc ý nói ông Trần Kha ra nắm quyền thì đất nước thịnh trị thật sự)
49- Khắp cả thiên hạ thái bình
50- Không đâu còn đánh nhau, nam thành được độc lập
51- Phương bắc khởi binh khắp nơi
52- Xuất quân đánh phá thành đông
53- Vua ở sông Bảo Giang ra mặt
54- Không cần đánh nhau mà cũng thành nghiệp (Nghĩa là khi quân ông Lý Đông A đi đến đâu thì quân đội đảng cộng sản đầu hàng và theo đến đấy)
55- Khắc Dũng bên tàu giao cho con ba cái tên để làm ba việc lớn.
56- Ở tỉnh Thanh Hoá là chỗ phát nhà Nguyễn
57- (Non xanh) là nước Việt Nam; Trắng răng là chỉ người phương tây chắc đây chỉ nước Mỹ.
58- Như đời nhà Tần bạo ngược đến cực điểm rồi cũng phải mất về tay ông bái công (Hán Cao Tổ)
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh (Hồ Chí Minh). Ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã nhầm lẫn nên cuối cùng lại có ông thánh là Lý Đông A ra đời và đồng thời sấm cũng nói những người cộng sản như lũ thằng hề rất bạo ngược.
59- Chứng tỏ đảng cộng sản có một nhóm ngoan cố đến cùng, nhưng vì thời thế mà phải mất về tay ông Lý Đông A.

Bia đổ:
Mộ cụ Trạng Trình có chôn bia một hôm dân làng thấy bia ở mộ cụ đổ, xem bia thấy có mấy câu:

“Cha con thằng Khả
Đánh ngã bia tao
Phải đền tam quán”

Bố con tên Khả chỉ có nghề đào chuột để sinh nhai. Hôm đó ra đào chuột ở mộ cụ, đánh đổ bia, dân làng bắt đền quan tám. thế mới hiểu (tam quán) là quan tám.

Bia cổ am
Khi làng Cổ Am bị bom tàn phá trong nhà thờ cụ Trạng Trình có thấy một cái bia, có hai câu dưới đây.

“Giữa năm hay hai bẩy mười ba
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây”

Chú thích: Năm ấy nhuần hai tháng bảy ông Bát kê (Pierre Pasquier) làm chức toàn quyền đi máy bay về Pháp bị cháy. Do thế mới biết tám gà đốt ở trên mây thì tám gà là bát kê, dịch âm ngữ (pasquier) .

Thơ rằng

Kia cơn gió thổi lá rung cây
Rung bắc, rung nam, đông với tây
1- Tan tác kiến kiều an đất nước
2- Xác xơ cổ thụ sạch am mây
3- Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
4- Hưng địa tràn dâng hoá nước đầy
5- Một ngựa một yên ai sùng bái
6- Nhắn con nhà Vĩnh Bảo cho hay

Chú thích:
1- Quốc quân đánh tỉnh kiến an
2- Làng cổ Am bị ném bom hồi ấy là năm 1930
3- Lâm thao phủ bị quốc quân đánh
4- Hưng hoá tỉnh cũng bị Quốc quân nổi dậy đánh
5- Tỉnh Yên Bái bị quốc quân đánh rối loạn
6- Ông Hoàng Gia Mô làm tri huyện ở Vĩnh bảo bị quốc quân giết chết năm 1931

Ngoài cuốn sấm tôi còn biết câu cảo của tàu nói về Hồ Chí Minh như sau:

Nhất kiếm, nhất mã
Anh hùng trong thiên hạ nhất thời

(ý nói sự nghiệp HCM chỉ được một thời là hết) Rất đúng.

Lời kết

Cuốn sấm trước đấy thì các nhà nho thường ai cũng có. Nhưng nay thì đã bị cộng sản đốt hầu hết vậy tôi xin dịch và chú thích những đoạn có liên quan đến thời thế bấy giờ để mọi người đọc biết và tự thức tỉnh và cũng như khuyên bảo cho người thân tỉnh thức vậy.
Nguồn: Phạm Hồng Đức, ykien.wordpress

Tháng Mười 13, 2010 Posted by | Sấm Trạng Trình | Phản hồi đã bị khóa

   

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.